Pallet gỗ thông cũ làm thùng ong dú được, và nhiều người nuôi vùng cao đã làm. Nhưng chỉ dùng pallet biết rõ nguồn gốc, chưa từng chở phân thuốc hay hóa chất, không có vết dầu loang, không có mùi lạ. Tháo nhẹ tay cho khỏi nứt ván, bào bỏ lớp mặt bẩn, phơi kỹ như gỗ mới, và vì ván pallet thường mỏng nên phải ghép dày thêm vách.
Tình huống quen thuộc: sau mùa thu hoạch cà phê, đại lý, kho hàng, xưởng chế biến thải ra cả đống pallet. Có người cho không, có người bán rẻ như củi. Nhìn đống gỗ thông còn khá đẹp, người nuôi ong nghĩ ngay tới việc đóng thùng. Ý tưởng đó tốt. Cái khó là không phải pallet nào cũng sạch như vẻ ngoài.
Bài này nói cách chọn pallet an toàn, cách tháo và xử lý ván, và những trường hợp nên bỏ hẳn, chỉ lấy làm giá hay mái chứ không làm thùng.
Pallet đã qua những gì trước khi tới tay mình?
Pallet là tấm kê hàng. Nó được làm ra để chở hàng, không phải để làm đồ dùng, và nó đã qua những nơi mình không biết. Một chiếc pallet có thể từng kê bao cà phê nhân, cũng có thể từng kê bao phân hóa học, can thuốc bảo vệ thực vật, thùng dầu nhớt, hóa chất công nghiệp. Gỗ hút những thứ đó vào thớ, và không phơi bao nhiêu cũng hết.
Pallet dùng cho hàng xuất khẩu thường phải được xử lý để diệt sâu mọt trong gỗ. Có hai cách hay gặp: xử lý bằng nhiệt, và xông hơi hóa chất. Pallet xử lý theo chuẩn quốc tế thường có con dấu đóng trên thanh gỗ. Trong dấu có ký hiệu HT là đã xử lý bằng nhiệt, loại này dùng được. Có ký hiệu MB là từng xông hóa chất, không dùng cho thùng ong.
Nhưng nhiều pallet dùng trong nước không có dấu nào cả. Không có dấu không có nghĩa là sạch, chỉ có nghĩa là không biết. Lúc đó phải dựa vào nguồn gốc: pallet lấy từ đâu, từng kê hàng gì. Người cho pallet thường biết điều này nếu mình chịu hỏi.
Ong dú sống trong thùng nhiều năm, ăn ở, nuôi con, chứa mật ngay sát vách gỗ. Mật lấy ra mình ăn và có khi đem bán. Vì vậy với gỗ làm thùng, nguyên tắc là còn nghi thì bỏ. Pallet nghi ngờ vẫn dùng được cho việc khác: làm giá kê, làm khung mái, làm hàng rào.
Chọn pallet: dùng được và nên bỏ
Dùng được: pallet kê nông sản khô, biết rõ nguồn. Pallet kê bao cà phê, bao gạo, hàng khô ở kho quen thì yên tâm hơn cả.
Dùng được: có dấu HT. Gỗ đã xử lý bằng nhiệt, không tẩm hóa chất. Vẫn phải xem kỹ vết bẩn.
Bỏ: có dấu MB. Đã từng xông hóa chất diệt mọt. Không làm thùng ong.
Bỏ: pallet từ kho phân bón, kho thuốc. Kể cả khi trông sạch. Hóa chất rơi vãi ngấm vào gỗ không nhìn thấy.
Bỏ: có vết dầu loang, vết ố màu lạ. Vết đen bóng, vết loang xanh, vàng là dấu hiệu từng dính chất lỏng.
Bỏ: có mùi lạ khi bào thử. Bào một đường trên ván, ngửi. Mùi gỗ thông thì được. Mùi dầu, mùi hắc hóa chất thì bỏ.
Bỏ: pallet sơn màu. Pallet sơn đỏ, xanh thường là pallet thuê của các hãng, có thể đã qua xử lý. Lớp sơn cũng không biết là sơn gì.
Bỏ: pallet gỗ ép, ván dăm. Có keo dán bên trong. Gặp ẩm vùng cao là nở bung ra.
Bỏ: gỗ đã mục, có mọt. Mọt trong gỗ có thể ăn tiếp. Gỗ mục giữ ẩm, sinh mốc.
Nghi ngờ: không dấu, không biết nguồn. Dùng làm giá, mái, rào. Không dùng làm vách thùng.
Ưu tiên ván dày, ít mắt. Ván pallet thường mỏng và nhiều mắt. Chọn những thanh dày và đẹp nhất cho vách.
Tháo, bào, phơi ván pallet
Tháo bằng xà beng dẹt, nạy từ từ. Nạy ở gần đinh, nâng đều hai đầu. Nạy giữa thanh là ván gãy đôi.
Cắt đinh nếu ván dễ nứt. Luồn cưa sắt vào khe giữa ván và thanh đỡ, cắt đứt đinh. Ván giữ nguyên, đinh còn sót thì đóng lún vào.
Nhổ sạch hoặc đóng chìm mọi đinh cũ. Đinh cũ gỉ sét làm hỏng lưỡi bào và có thể đâm tay khi làm việc.
Bào bỏ lớp mặt. Lớp ngoài cùng là chỗ bám bụi, dầu, bẩn. Bào cho tới khi lộ màu gỗ sáng.
Cưa bỏ đầu ván. Đầu ván hay nứt và bẩn nhất vì va đập khi bốc xếp.
Ngửi lại sau khi bào. Lớp gỗ mới lộ ra phải có mùi gỗ. Nếu vẫn còn mùi lạ, bỏ tấm đó.
Phơi như gỗ mới. Phơi thoáng gió, kê cao, lật đều. Gỗ pallet đã khô sẵn nên thường nhanh hơn gỗ mới xẻ.
Phơi tách từng tấm. Không chồng ván lên nhau. Kê thanh chêm giữa các tấm.
Kiểm mắt gỗ. Mắt gỗ lỏng gõ ra để lại lỗ. Gõ thử, mắt nào lỏng thì cắt bỏ đoạn đó.
Đánh dấu ván theo độ dày. Ván dày làm vách, ván mỏng làm nắp lót hay khung. Phân loại trước khi đóng.
Đóng thùng sau khi ván đã ổn định. Ván phơi xong, để vài hôm trong mái che rồi mới đóng, tránh co ngót sau khi ghép.
Ván pallet mỏng: ghép dày vách cho vùng cao
Ván pallet thường mỏng hơn ván người ta xẻ riêng để đóng thùng ong. Vách mỏng thì ban ngày nóng nhanh, ban đêm nguội nhanh. Ở đồng bằng nóng ấm có thể chấp nhận. Ở cao nguyên đêm lạnh, vách mỏng là đàn phải chống lạnh vất vả.
Cách đơn giản là làm vách hai lớp. Lớp trong là ván pallet đã bào sạch, ghép khít. Lớp ngoài là ván thứ hai, đóng so le để khe ván lớp này nằm sau lưng ván lớp kia. Giữa hai lớp có một khe không khí mỏng, giống như cách người ta làm tường hai lớp. Vách hai lớp vừa ấm hơn vừa kín khe hơn.
Nếu không đủ ván cho hai lớp, có thể đóng một lớp ván pallet và dùng thêm lớp áo bọc vào mùa lạnh. Nhưng nắp thì nên làm dày, vì nắp là nơi mất nhiệt nhiều nhất.
Một cách khác là không làm cả thùng từ pallet mà chỉ dùng ván pallet cho những phần ít quan trọng: tấm lót nắp, khung đỡ, nẹp ngoài. Thân thùng thì dùng ván dày mua riêng. Cách này tận dụng được gỗ mà không phải đánh đổi độ ấm của đàn.
Thùng làm từ pallet đóng xong vẫn phải qua bước thử như thùng mới: đóng nắp nửa ngày, mở ra ngửi, sờ mặt trong. Mùi lạ nào lẩn khuất trong thớ gỗ sẽ lộ ra ở bước này.
Những lỗi hay gặp khi đóng thùng từ pallet
Lấy cả pallet về mà không hỏi nguồn. Nguồn gốc là thứ quan trọng nhất và chỉ hỏi được lúc nhận. Về tới nhà thì không ai nhớ.
Dùng ván mà không bào. Lớp mặt giữ hết bụi bẩn, dầu mỡ của nhiều năm bốc xếp.
Đóng thùng ngay sau khi tháo. Ván pallet có thể đã ướt mưa ngoài bãi. Phải phơi như gỗ mới.
Ghép vách bằng nhiều thanh hẹp hở khe. Ván pallet hẹp, ghép nhiều thanh thì nhiều khe. Phải ghép khít hoặc làm vách hai lớp.
Để sót đinh trong lòng thùng. Đầu đinh chìa ra trong lòng thùng gỉ dần, ong phải trát keo bọc lại.
Dùng keo dán gỗ có mùi để ghép. Ghép bằng đinh, vít, mộng. Keo dán có mùi kéo dài trong lòng thùng.
Dùng ván mỏng làm nắp. Nắp mỏng cong vênh nhanh và mất nhiệt. Nắp phải là tấm dày và có nẹp.
Lẫn ván từ nhiều pallet khác nguồn. Một tấm nghi ngờ lẫn vào là cả thùng phải bỏ. Phân loại theo từng nguồn.
Đóng thùng to hơn cần. Ván nhiều dễ làm thùng rộng. Thùng quá rộng so với đàn thì đàn khó giữ ấm và khó canh.
Quên chống kiến ở thùng mới. Thùng tự đóng hay quên chân giá. Thùng tốt mà chân hở thì kiến vẫn lên.
Tiếc gỗ không dám bỏ. Thùng ong là nhà nhiều năm của đàn. Tiết kiệm ở gỗ mà mất đàn là lỗ.
Câu hỏi thường gặp
Dấu trên pallet nằm ở đâu?
Thường đóng trên thanh gỗ ở hông pallet, một ô có ký hiệu và các chữ số. Tìm ký hiệu HT hoặc MB trong ô đó. Nhiều pallet nội địa không có dấu.
Pallet gỗ thông có đủ tốt để làm thùng ong dú không?
Gỗ thông pallet là loại gỗ hay dùng làm thùng, nên về chất gỗ thì hợp. Điều cần lo là pallet đã từng tiếp xúc với gì, và ván thường mỏng nên cần ghép dày thêm.
Có thể dùng nguyên pallet làm giá kê thùng ong không?
Được, và đây là cách dùng pallet an toàn hơn cả. Đặt pallet lên chân cao, chân có chặn kiến. Pallet nghi ngờ nguồn gốc vẫn dùng làm giá được vì không chạm trực tiếp vào tổ.
Thùng làm từ pallet có ảnh hưởng tới mật không?
Nếu gỗ sạch, bào kỹ và phơi khô thì không khác gì thùng gỗ mới. Nếu gỗ từng dính hóa chất thì có nguy cơ, nên mới phải chọn kỹ từ đầu.
Ván pallet bị mọt có dùng được không?
Không nên dùng làm vách thùng. Mọt có thể tiếp tục ăn gỗ, lỗ mọt là chỗ cho ẩm và côn trùng. Cắt bỏ đoạn mọt hoặc dùng làm củi.
Đóng thùng ong từ pallet có cần dụng cụ gì đặc biệt?
Xà beng dẹt hoặc cây nạy để tháo, cưa sắt để cắt đinh, bào tay hoặc bào điện, cưa, búa, đinh hoặc vít. Thước và ê ke để thùng vuông thành sắc cạnh, ghép khít.