Ở vùng cao, những đêm lạnh cuối năm và đầu năm, thùng ong dú nên được mặc thêm một lớp áo tháo rời: bao bố, tấm xơ dừa, hoặc một lớp ván mỏng bọc ngoài. Bọc kỹ nắp và các mặt hứng gió, chừa nguyên cửa tổ và một khe thở nhỏ, rồi tháo ra khi trời ấm lại. Bọc kín mít không chừa chỗ thở là thùng đọng nước, còn hại hơn không bọc.
Sáng sớm mùa lạnh đi một vòng quanh trại sẽ thấy rõ: sương còn bám trên cỏ, đặt tay lên nắp thùng gỗ lạnh buốt, cửa tổ im lìm, phải tới khi nắng lên cao ong mới lục tục ra. Đàn khoẻ chịu được. Đàn nhỏ, đàn mới chia, đàn mới chuyển về thì mỗi đêm lạnh là một lần tiêu hao.
Bài này nói cách làm lớp áo cho thùng sao cho ấm mà không ngột, dùng vật liệu gì, bọc mặt nào, và khi nào nên tháo.
Ong dú chống lạnh bằng cách nào, và mình giúp được gì?
Ong dú là ong vùng nóng. Chúng không có cách tụ lại thành một khối lớn tự sưởi như ong mật ở xứ lạnh. Đàn ong dú giữ ấm chủ yếu nhờ lớp vỏ sáp và keo bao quanh khu ấu trùng, cùng với độ dày của vách tổ, hốc cây nơi chúng sống.
Trong tự nhiên, ong dú ở hốc cây to, vách gỗ dày cả gang tay, ít chịu thay đổi nhiệt độ. Vào thùng gỗ, vách mỏng hơn nhiều. Thùng gỗ thông mỏng ban ngày ấm lên nhanh nhưng ban đêm cũng nguội nhanh. Lớp áo bọc ngoài là để bù lại phần vách dày mà thùng thiếu.
Khi trời lạnh, đàn ra làm muộn và về sớm. Thời gian kiếm mồi ngắn lại trong khi đàn vẫn phải ăn để giữ ấm. Đàn khoẻ có mật dự trữ thì qua được. Đàn yếu, ít mật, lại phải chống lạnh mỗi đêm, có thể suy dần tới mức không còn đủ ong thợ.
Lớp áo giúp đàn tiêu ít sức hơn để giữ ấm ban đêm, và giúp thùng không nguội quá nhanh khi sương xuống. Nó không thay được mật dự trữ và không cứu được đàn đã quá yếu. Vì vậy song song với bọc thùng, phải để lại đủ mật cho đàn trước mùa lạnh, không thu quá tay vào cuối mùa mưa.
Chọn vật liệu cho lớp áo bọc thùng
Bao bố: rẻ, dễ có, dễ tháo. Gấp đôi hoặc gấp ba thì giữ ấm khá. Bao bố thoáng hơi nên ít đọng nước bên trong.
Tấm xơ dừa: giữ ấm tốt, nhẹ. Cắt thành tấm vừa từng mặt thùng, buộc lại. Xơ dừa chịu ẩm khá, không mục nhanh như vải.
Ván mỏng bọc thêm một lớp: chắc và bền. Một lớp ván ghép quanh thùng, giữa hai lớp có khe không khí, giống như tường hai lớp. Hợp cho trại dùng nhiều mùa.
Tấm cói, chiếu cũ: dùng tạm được. Quấn hai ba vòng. Phải để chỗ khô, ướt vào là nặng và lạnh.
Rơm, lá khô nhồi trong bao: ấm nhưng phải để ý. Ấm, nhưng dễ thành chỗ ở của chuột, côn trùng, và hút ẩm khi mưa. Kiểm thường xuyên.
Mút xốp: ấm nhưng bí. Xốp không cho hơi đi qua. Nếu dùng chỉ đặt trên nắp, không quấn kín bốn mặt.
Ni lông: không dùng làm áo. Ni lông giữ hơi nước lại ngay sát thành thùng, đúng điều mình muốn tránh.
Chăn mền cũ: hút nước, nặng. Gặp sương hoặc mưa lạnh là ướt sũng, lạnh hơn không bọc. Chỉ dùng khi có mái che rất kín.
Vật liệu không mang mùi hóa chất. Bao đựng phân, bao đựng thuốc dù đã giặt vẫn còn mùi. Chỉ dùng bao sạch.
Có thể kết hợp hai lớp. Lớp trong là xơ dừa hoặc bao bố, lớp ngoài là ván hoặc tấm lá để chặn gió và mưa phùn.
Làm sẵn trước mùa lạnh. Cắt sẵn theo cỡ thùng, đánh dấu, cất khô. Đến lúc lạnh chỉ việc buộc vào, nhanh và ít quấy đàn.
Bọc mặt nào, chừa chỗ nào
Nắp thùng là chỗ cần bọc nhất. Hơi ấm bốc lên trên và thoát ra qua nắp. Một tấm dày trên nắp có tác dụng hơn bọc mỏng bốn mặt.
Mặt hứng gió lạnh bọc kỹ thứ hai. Quan sát gió đêm từ phía nào. Mặt đó bọc dày, mặt khuất gió có thể bọc mỏng hơn.
Mặt đáy cũng mất nhiệt. Thùng đặt trên giá hở thì gió lùa từ dưới lên. Lót một tấm dưới đáy, giữa đáy và mặt giá.
Chừa nguyên cửa tổ. Cửa phải thoáng, ong ra vào không vướng. Cắt lỗ trên lớp áo rộng hơn cửa một chút.
Đừng để mép vải che lấp ống cửa. Ống keo ở cửa tổ là lối ra vào và chỗ đàn canh gác. Vải phủ lên làm ong bị kẹt, kiến cũng dễ bò theo vải vào.
Chừa một khe thở nhỏ phía trên. Hơi thở của đàn chứa nước. Có khe nhỏ ở phía trên, hơi ẩm thoát ra, không đọng lên nắp.
Không bọc kín mặt có khe thăm. Nếu thùng có khe hay nắp thăm riêng, bọc sao cho mở được mà không phải tháo hết áo.
Buộc chặt bằng dây đay, dây dù. Gió đêm làm áo lỏng ra, phần phật, va vào thùng. Buộc gọn, nút để dễ tháo.
Lớp áo không chạm đất, không chạm cỏ. Mép vải thả xuống chạm cỏ là cầu cho kiến và hút ẩm từ dưới lên.
Mái che vẫn giữ nguyên. Áo bọc lo giữ ấm, mái lo mưa nắng. Áo ướt là mất tác dụng giữ ấm.
Đàn yếu bọc trước, đàn mạnh bọc sau. Không đủ vật liệu thì ưu tiên đàn nhỏ, đàn mới chia, đàn mới chuyển về.
Ghi lại thùng nào đã bọc. Để lúc trời ấm nhớ tháo đúng và đủ, không bỏ sót thùng bị bọc qua mùa nóng.
Dấu hiệu bọc sai: đọng hơi nước trong thùng
Cái lo lớn nhất khi bọc thùng không phải là chưa đủ ấm, mà là đọng hơi nước. Đàn ong thở ra hơi ẩm, mật mới trong bình cũng bay hơi. Khi không khí ấm ẩm trong thùng chạm vào mặt nắp lạnh, nó đọng thành giọt. Giọt nước nhỏ xuống tổ thì phấn mốc, mật loãng và chua thêm, ấu trùng dễ hỏng.
Để biết, chọn một ngày nắng ấm, giữa buổi, mở nhẹ nắp một thùng đã bọc để xem. Mặt dưới nắp khô hoặc chỉ hơi mờ là ổn. Có giọt nước đọng, gỗ sẫm màu ẩm, có mùi chua lên là lớp áo đang bí quá. Mở rộng khe thở, bỏ bớt lớp áo phía trên hoặc đổi vật liệu thoáng hơn.
Một dấu hiệu khác nhìn từ bên ngoài: buổi sáng thấy nước chảy ra từ cửa tổ, hay vệt ẩm chảy xuống dưới cửa. Đó là nước đọng bên trong đang tìm đường ra.
Ngược lại, nếu đã bọc mà sáng ra nắp thùng vẫn lạnh ngắt, đàn ra làm rất muộn, thì có thể lớp áo quá mỏng, hoặc bị ướt sương. Đổi sang vật liệu dày hơn hoặc thêm lớp ngoài chắn gió. Bọc thùng ở vùng cao là việc chỉnh dần theo từng thùng, từng góc trại, không có một công thức áp cho tất cả.
Đừng mở nắp kiểm trong buổi sáng sương lạnh hay chiều tối. Mở lúc lạnh là thả hết hơi ấm đàn đã giữ cả đêm. Chỉ mở khi nắng đã lên và trời ấm.
Khi nào bọc, khi nào tháo
Bọc khi đêm bắt đầu lạnh rõ. Nhìn đàn: ong ra làm muộn hẳn, về sớm, buổi sáng cửa tổ im lâu. Đó là lúc bắt đầu bọc.
Bọc vào chiều ấm, không bọc lúc sương. Buộc áo khi thùng còn ấm hơi nắng chiều, lớp áo giữ được phần ấm đó cho đêm.
Không cần bọc mọi thùng như nhau. Thùng ở chỗ khuất gió, đàn mạnh có thể chỉ cần tấm phủ nắp. Thùng ở đầu gió, đàn yếu cần bọc kín hơn.
Mùa lạnh có ngày nắng ấm thì tháo bớt nắp áo. Trưa nắng mà nắp còn bọc dày, thùng có thể nóng lên bất ngờ. Ở những ngày như vậy, nới phần trên.
Mưa lạnh kéo dài thì kiểm áo có ướt không. Áo ướt phải thay bằng áo khô. Áo ướt áp vào thùng còn rút nhiệt nhanh hơn.
Tháo khi đêm hết lạnh. Đàn ra vào sớm trở lại, nắp thùng buổi sáng không còn lạnh buốt. Tháo dần, bỏ lớp ngoài trước.
Đừng quên tháo trước mùa nóng. Áo bị bỏ quên qua những ngày nắng gắt là thùng thành cái lò nhỏ.
Tháo xong phơi áo cho khô. Giũ sạch, phơi nắng, cất chỗ khô. Áo mốc mùa sau không dùng được.
Nhìn kỹ áo khi tháo. Kiến làm tổ trong lớp áo, nhện giăng ở mép, gián trú bên trong là chuyện thường. Dọn trước khi cất.
Ghi lại thùng nào qua mùa lạnh tốt. Thùng nào yếu đi, thùng nào vẫn mạnh, để mùa sau biết chỗ nào cần bọc kỹ hơn.
Song song với bọc: để đủ mật cho đàn. Không có mật dự trữ thì áo bọc ấm mấy cũng không đủ. Hạn chế thu mật cuối mùa mưa với đàn trung bình.
Câu hỏi thường gặp
Ong dú có chết vì lạnh không?
Đàn khoẻ, nhiều mật thường qua được mùa lạnh ở cao nguyên. Đàn nhỏ, ít mật, thùng vách mỏng đặt nơi đầu gió thì có thể suy dần. Lạnh hiếm khi giết đàn trong một đêm mà làm đàn hao mòn qua nhiều tuần.
Có nên đem thùng ong dú vào nhà khi trời lạnh?
Thường không cần và không nên di chuyển nhiều, vì ong phải định hướng lại chỗ ở. Nếu thật sự lạnh bất thường, có thể dời thùng sang chỗ khuất gió gần đó vào buổi tối, giữ hướng cửa như cũ.
Có cần bọc thùng ong dú ở vùng không quá lạnh không?
Ở nơi đêm chỉ mát, không lạnh buốt, đa số đàn không cần bọc. Một tấm phủ nắp cho đàn yếu là đủ. Quan sát giờ đàn ra làm buổi sáng để quyết định.
Bọc thùng có làm ong khó ra vào không?
Không, nếu cửa tổ được chừa nguyên và mép vải không che ống cửa. Ong vẫn ra vào bình thường, chỉ ít hơn vì trời lạnh.
Có thể dùng đèn sưởi cho thùng ong dú không?
Không nên. Đèn sưởi làm nóng không đều, dễ quá nhiệt cục bộ, thu hút côn trùng ban đêm và tiềm ẩn nguy cơ cháy. Cách an toàn là giữ nhiệt bằng vật liệu cách nhiệt và để đủ mật.