Nuôi ong dú gần hồ thủy điện lớn được cái cảnh đẹp và nguồn nước sẵn, nhưng đàn phải chịu thêm hơi ẩm cao, sương hồ dày buổi sáng và gió hồ đổi chiều trong ngày. Cách sống chung là đặt thùng lùi lên sườn đồi, cao hơn dải sương sát mặt nước, có hàng cây chắn phía hồ, và tính nguồn hoa chỉ ở phía đất liền vì phía mặt nước thì ong không có gì để ăn.
Vùng Tà Đùng là một ví dụ: hồ rộng, nhiều đảo nhỏ phủ rừng, đồi cà phê và rừng bao quanh. Đứng trên đồi nhìn xuống buổi sáng, cả mặt hồ phủ một lớp sương trắng, đẹp như tranh. Với người nuôi ong, lớp sương đó cũng là câu hỏi: thùng của mình đang nằm trong hay ngoài lớp sương ấy.
Hồ lớn làm thay đổi khí hậu quanh trại như thế nào?
Một hồ nước rộng giống như cái túi giữ nhiệt khổng lồ. Ban ngày nước ấm lên chậm hơn đất, ban đêm nguội đi chậm hơn đất. Vì vậy những khu đất sát hồ thường bớt nóng gắt vào trưa và bớt lạnh sâu vào đêm so với chỗ xa hồ. Nghe thì có vẻ tốt cho ong.
Nhưng đi kèm là hơi nước. Mặt hồ bốc hơi suốt ngày, không khí quanh hồ ẩm hơn. Đêm xuống, không khí ẩm gặp lạnh thì hóa sương. Sương hồ thường dày nhất ở sát mặt nước và các vạt đất thấp ven bờ, có khi trùm cả sườn đồi thấp tới giữa buổi sáng.
Thứ ba là gió hồ. Ban ngày khi đất nóng lên nhanh hơn nước, gió thường thổi từ mặt hồ vào bờ. Ban đêm đổi chiều, gió từ đất thổi ra hồ. Trên mặt hồ trống không có gì chắn nên gió đi rất thẳng, tới bờ là táp thẳng vào những gì đứng đầu tiên.
Ba thứ này cộng lại tạo ra một vùng ven hồ có tiểu khí hậu riêng. Hai trại cách nhau không xa, một trại sát mép nước, một trại trên lưng đồi phía trên, có thể khác nhau rõ về độ ẩm và giờ tan sương.
Đàn ong dú chịu ảnh hưởng gì khi ở sát hồ?
Ra cửa muộn vì sương. Thùng nằm trong dải sương sát nước có thể phải đợi tới giữa buổi sáng mới khô cửa để ong ra.
Thùng dễ đọng ẩm. Không khí ẩm thấm vào khe, đọng thành giọt dưới nắp khi đêm lạnh.
Bình phấn dễ mốc. Phấn hoa ẩm lâu dễ lên mốc, đàn phải dọn bỏ, mất dự trữ.
Gió hồ thổi thẳng vào cửa. Thùng ở mép bờ hứng gió từ mặt nước không có vật chắn, ong bay vất vả.
Nửa vòng tầm bay là mặt nước. Đặt sát bờ thì phần phía hồ không có hoa. Nguồn ăn chỉ còn nửa vòng phía đất liền.
Ong có thể rơi xuống nước. Gặp gió mạnh trên mặt hồ, ong nhỏ dễ bị quật xuống nước khi bay ra phía hồ.
Mực nước hồ lên xuống. Hồ thủy điện có lúc nước dâng, lúc nước rút để lộ bãi bùn. Chỗ đặt thùng phải cao hơn mức nước cao nhất từng có.
Nhiều côn trùng ven nước. Ven hồ thường nhiều nhện, chuồn chuồn, vài loài săn côn trùng nhỏ. Thường không đáng lo, nhưng nên để ý ở cửa thùng.
Ít nóng gắt hơn. Mặt tích cực: trưa ven hồ thường dịu hơn đồi trống, thùng ít bị nóng ruột.
Nước uống sẵn. Đàn không phải đi xa tìm nước trong mùa khô, miễn là bờ có chỗ cạn để ong đậu uống.
Cảnh đẹp cho khách. Trại ven hồ hợp cho khách tham quan, nhưng chỗ đẹp nhất cho ảnh chưa chắc là chỗ tốt nhất cho đàn.
Đặt thùng cách bờ, cao hơn mặt nước bao nhiêu?
Không có con số chuẩn cho mọi bờ hồ, vì mỗi bờ một độ dốc, một hướng gió. Cách đáng tin nhất vẫn là nhìn sương. Chọn vài buổi sáng mùa mưa và mùa lạnh, đứng trên đồi nhìn xuống, xem lớp sương hồ dày tới đâu, tan lúc mấy giờ ở từng độ cao. Đặt thùng ở phía trên đường mép sương đó.
Thông thường, chỉ cần lùi lên sườn đồi cao hơn mặt nước một khoảng rõ rệt là đã ra khỏi dải sương dày nhất. Những vạt đất thấp sát bờ, nhất là chỗ có lau sậy, bãi bồi, là chỗ ẩm và lạnh nhất, không nên đặt.
Về hướng, tránh đặt cửa thùng nhìn thẳng ra mặt hồ. Quay cửa về phía đất liền, phía có vườn và hoa, để ong ra là bay vào vùng có ăn, và gió từ mặt hồ thổi vào lưng thùng chứ không vào cửa.
Giữ lại hoặc trồng một hàng cây giữa thùng và hồ. Hàng cây vừa chắn gió hồ, vừa giữ bớt hơi ẩm, lại cho bóng trưa. Cây bụi có hoa thì càng tốt, vừa chắn vừa nuôi ong.
Cuối cùng, hỏi người địa phương mực nước cao nhất hồ từng lên tới đâu. Có những năm nước dâng cao hơn bình thường, thùng đặt quá thấp có thể bị ngập chân giá hay sạt bờ. Đừng dựa vào mức nước nhìn thấy trong mùa khô.
Chăm thùng ong ở vùng ven hồ
Thùng kín, ít khe. Bít các khe hở không cần thiết ở thành thùng để hơi ẩm khó lọt vào. Để đàn tự bít thêm bằng keo.
Mái che có độ dốc. Mưa ven hồ hay kèm gió xiên. Mái nghiêng, nhô xa phía hồ.
Kê thùng cao khỏi đất. Đất ven hồ ẩm, hơi ẩm bốc lên từ mặt đất. Giá kê cao giúp thùng khô hơn.
Kiểm mốc định kỳ. Mở thùng vào trưa nắng ấm, xem bình phấn có mốc không, bỏ những bình mốc nặng.
Đón nắng sớm. Thùng ven hồ càng cần nắng sáng hong khô sau đêm sương.
Không để nước đọng chân giá. Chân giá đặt trên nền đất thoát nước tốt, có rãnh nhỏ.
Chậu nước có rơm vẫn cần. Bờ hồ dốc, sâu, ong có thể chết đuối khi uống. Một chậu nước nông gần trại an toàn hơn.
Theo dõi gió theo mùa. Ghi lại mùa nào gió hồ mạnh nhất, mùa đó kiểm dây chằng và mái che.
Thu mật cẩn trọng. Mật ở vùng ẩm có thể loãng hơn, dễ lên men. Chọn ngày khô ráo để thu, đóng hũ ngay.
Bảo quản mật nơi khô mát. Không để mật thu được trong lán sát mặt hồ nhiều ngày.
So sánh vị trí. Có thùng ở hai độ cao khác nhau thì ghi lại giờ ra cửa, độ mốc, sức đàn để biết chỗ nào hợp.
Khi muốn làm trại ven hồ để đón khách
Tách chỗ ngắm với chỗ nuôi. Chỗ ngắm cảnh đẹp nhất sát mép nước để khách ngồi, còn thùng ong đặt lùi lên trên.
Lối đi cho khách không cắt ngang đường bay. Khách đi ngang trước cửa thùng làm ong rối. Lối đi nên vòng phía sau hoặc bên hông.
Có vài thùng mẫu dễ xem. Một hai thùng đặt chỗ thuận tiện để khách quan sát, không mở hết các thùng.
Không mở thùng khi sương còn dày. Lịch tham quan nên tránh sáng sớm, dồn vào giữa buổi sáng hoặc đầu chiều.
Nhắc khách không xịt nước hoa, thuốc chống muỗi gần thùng. Mùi lạ làm ong khó chịu.
Giữ yên lặng gần trại. Ong dú không chích, nhưng tiếng ồn và rung làm đàn bị quấy.
Không cho khách bẻ cành, hái hoa quanh trại. Đó là nguồn ăn của đàn.
Rác thải mang về. Rác, nhất là đồ ngọt, kéo kiến và ong lạ tới trại.
Đặt lịch trước. Để người ở trại chọn được giờ và thùng phù hợp với thời tiết hôm đó.
Giải thích chuyện sương và hồ cho khách. Khách thích nghe vì sao trại đặt ở chỗ này chứ không phải sát mép nước.
Không hứa điều không có. Không hứa thấy ong chúa, không hứa thu mật mỗi lần ghé. Đàn mới là ưu tiên.
Câu hỏi thường gặp
Nuôi ong dú gần hồ có được nhiều mật hơn không?
Không hẳn. Phía mặt hồ không có hoa, nên nguồn ăn có khi còn ít hơn trại giữa vườn. Lợi thế của ven hồ là nước sẵn và trưa dịu, không phải nhiều mật hơn.
Sương hồ có làm chết ong dú không?
Sương không trực tiếp làm chết ong, nhưng làm đàn ra cửa muộn, thùng đọng ẩm, phấn dễ mốc. Kéo dài nhiều tháng thì đàn yếu dần, nhất là thùng đặt sát mặt nước.
Đặt thùng trên đảo nhỏ giữa hồ được không?
Không nên với người mới. Đảo nhỏ nguồn hoa giới hạn, gió bốn phía, và đi lại chăm sóc khó. Nếu có đàn hoang trên đảo thì để chúng yên.
Ong dú có uống nước hồ được không?
Ong có thể đậu ở mép nước cạn để uống, nhưng bờ dốc và sóng dễ làm ong rơi xuống. Đặt một chậu nước nông có rơm hoặc đá gần trại an toàn hơn.
Mật ong dú ở trại ven hồ có loãng hơn không?
Có thể loãng hơn chút vì không khí ẩm, nhưng còn tùy mùa hoa và thời điểm thu. Mật ong dú vốn đã nhiều nước, nên thu vào ngày khô và bảo quản mát là quan trọng.
Có nên làm lán che lớn chung cho cả trại ven hồ không?
Lán chung tiện cho người, nhưng nếu kín quá thì hầm ẩm. Mái che riêng từng giá, hoặc lán thoáng bốn phía, thường hợp hơn cho vùng ven hồ.