Ở cao nguyên Lâm Đồng, các đàn ong dú được nuôi trong thùng phần lớn thuộc nhóm Tetragonula, hay được gọi theo hai tên là laeviceps và iridipennis. Nhóm này được giữ nhiều vì đàn nhỏ, chịu sống trong thùng gỗ, hiền, và đã có sẵn ngoài tự nhiên quanh vùng. Còn chuyện con ong trong thùng nhà mình đúng là loài nào thì mắt thường chỉ đoán được đến mức nhóm, muốn chắc tên loài phải nhờ người có chuyên môn.
Bà con hay hỏi câu này theo kiểu: ong nhà mình là ong dú hay ong vú, giống nào cho nhiều mật. Bài này nói thẳng: phân biệt được cái gì bằng mắt, cái gì nên dừng lại, và vì sao với người nuôi ở vùng cao, nguồn gốc khí hậu của đàn quan trọng hơn cái tên Latin.
Ong dú, ong vú, ong muỗi: tên gọi ở mỗi nơi một khác
Ở Việt Nam, cùng một nhóm ong nhỏ không ngòi mà mỗi vùng gọi một kiểu. Miền Nam hay gọi ong dú, nhiều nơi gọi ong vú, có chỗ gọi ong muỗi, ong ruồi vì con ong quá nhỏ. Tất cả đều thuộc tộc ong không ngòi, giới khoa học gọi là Meliponini, khác hẳn ong mật Apis quen thuộc.
Điểm chung để nhận ra ngay: con ong nhỏ, đen hoặc nâu sẫm, không chích. Tổ không có bánh tổ hình lục giác treo dọc như ong mật. Mật và phấn được cất trong những bình sáp tròn nhỏ như hạt đậu, xếp thành chùm. Cửa tổ thường có một ống ngắn làm bằng sáp trộn nhựa cây.
Trong nhóm ong không ngòi ở Việt Nam có nhiều giống khác nhau. Tetragonula là giống hay được nuôi nhất. Ngoài ra còn Lepidotrigona, Lisotrigona và vài giống khác sống hoang trong rừng. Mỗi giống lại có nhiều loài, và một số loài trông gần như y hệt nhau.
Cho nên khi ai đó bán đàn và gọi một cái tên rất chắc chắn, mình nên hiểu đó thường là tên gọi theo kinh nghiệm, không phải kết quả giám định. Điều đó không có gì sai, chỉ là đừng coi cái tên đó là bảo đảm.
Vì sao nhóm Tetragonula được nuôi nhiều ở vùng cao?
Đàn nhỏ, vừa thùng. Tetragonula sống thành đàn vài nghìn con, làm tổ trong hốc cây nhỏ. Một thùng gỗ vừa phải là đủ chỗ, không cần thùng to.
Có sẵn ngoài tự nhiên quanh vùng. Quanh rừng và vườn ở Lâm Đồng có nhiều đàn hoang, nên đàn nuôi đã quen khí hậu, quen nguồn hoa địa phương.
Chịu tách đàn trong thùng. Người nuôi đã quen cách chia đàn Tetragonula sang thùng mới, nên nhân đàn được mà không phải bắt thêm từ rừng.
Hiền, không chích. Bị quấy thì có thể chui vào tóc, cắn nhẹ, nhưng không đau như ong mật. Người già, trẻ em đi quanh trại vẫn an toàn.
Ăn nhiều loại hoa. Không kén hoa, đi cả hoa cà phê, hoa rừng, cỏ dại, cây ăn trái. Ở vùng cao nhiều loài hoa nở rải rác nên nhóm này dễ sống.
Gom nhựa cây giỏi. Vùng cao nhiều cây có nhựa, đàn làm keo đủ để bít khe thùng, giữ ấm khi đêm lạnh.
Mật ít nhưng đều. Đàn Tetragonula không cho nhiều mật. Người nuôi vùng cao nhận điều này từ đầu, không kỳ vọng sản lượng như ong mật.
Thùng gỗ địa phương làm được. Gỗ thông và gỗ vườn ở vùng cao đủ làm thùng, không cần vật liệu mua từ xa.
Không phải loài duy nhất. Một số người thử nuôi giống khác lấy từ rừng. Kết quả chưa đều và kinh nghiệm còn ít, nên với người mới, Tetragonula vẫn là lối đi ít rủi ro.
Laeviceps hay iridipennis, khác nhau ra sao. Trong sách vở, hai tên này còn được giới nghiên cứu bàn cãi, có lúc gộp, có lúc tách. Với người nuôi, cách chăm gần như giống nhau.
Đừng chạy theo tên lạ. Lời giới thiệu kiểu loài hiếm, loài cho mật quý thường không có kiểm chứng. Đàn khỏe, quen khí hậu mới là thứ đáng tiền.
Nhận mặt bằng mắt thường: được đến đâu thì dừng
Nhìn kích cỡ. Tetragonula nhỏ, cỡ hạt gạo. Có những loài còn nhỏ hơn nữa, bé như con muỗi, thường thuộc các giống khác.
Nhìn màu thân. Phần lớn đen hoặc nâu đen. Một số đàn có ong non màu nhạt hơn, đừng thấy vậy mà vội cho là hai loài.
Nhìn cánh dưới nắng. Cánh ong dú có ánh trong, nhìn nghiêng dưới nắng có khi ánh màu. Đây chỉ là dấu hiệu phụ, không đủ để phân loài.
Nhìn cửa tổ. Tetragonula thường có ống cửa ngắn, nhỏ, màu nâu đến đen tùy nhựa. Có giống khác làm cửa loe rộng như cái phễu dính, nhìn khác hẳn.
Nhìn bình sáp bên trong. Bình mật, bình phấn tròn, chùm lại. Ổ ấp là những ô nhỏ xếp thành cụm hoặc xoắn. Kiểu sắp xếp có khác giữa các giống.
Nhìn tập tính. Có loài rất nhỏ hay bay tới đậu khóe mắt, mồ hôi người. Đây thường không phải loài mình nuôi lấy mật.
Đến đây thì dừng. Phân biệt laeviceps với iridipennis, hay các loài gần nhau trong Tetragonula, cần kính lúp mạnh, kính hiển vi và người đã quen làm. Bằng mắt thường thì đoán chứ không chắc.
Ảnh chụp điện thoại cũng có giới hạn. Ảnh rõ giúp nhận giống, nhưng nhiều nhà nghiên cứu vẫn phải xem mẫu thật mới chốt được loài.
Muốn biết chắc thì hỏi đúng nơi. Các trường đại học, viện có bộ môn côn trùng, hoặc người đã làm việc với ong không ngòi lâu năm. Hỏi và chịu chờ.
Ghi lại đặc điểm đàn mình. Kích cỡ, màu, kiểu cửa, kiểu ổ ấp. Sau này cần hỏi chuyên gia sẽ có sẵn thông tin.
Đừng giết ong để xem. Nếu cần mẫu cho người giám định, hỏi họ cách lấy. Tự ý bắt nhiều ong ngâm cồn là không cần thiết.
Với người nuôi vùng cao, nguồn gốc khí hậu quan trọng hơn tên loài
Thứ quyết định đàn sống khỏe hay không ở vùng cao không nằm ở tên Latin, mà nằm ở chỗ đàn đó đã quen với đêm lạnh, sương sớm, mùa mưa dài hay chưa. Hai đàn cùng một loài, một đàn bắt từ rừng gần trại, một đàn chở từ vùng nắng nóng quanh năm lên, có thể sống rất khác nhau trong tháng lạnh đầu tiên.
Đàn đã ở vùng cao nhiều thế hệ thường biết đóng bớt cửa sớm khi chiều trở lạnh, làm vỏ bọc ổ ấp dày hơn, trữ mật trước mùa mưa. Đàn mới chở lên chưa chắc có những thói quen ấy ngay, nhất là khi tới nơi đúng mùa lạnh.
Vì vậy khi chọn đàn để nuôi ở cao nguyên, câu đáng hỏi người bán là đàn này nuôi ở đâu, ở đó lạnh không, đã qua mùa mưa chưa. Câu đó cho biết nhiều hơn là hỏi đây là loài gì.
Nếu đã lỡ mang đàn từ vùng thấp lên, thì đặt chỗ kín gió, đón nắng sớm, đừng thu mật trong năm đầu, và theo dõi kỹ qua mùa lạnh đầu tiên. Nhiều đàn vẫn quen được, chỉ là cần thời gian.
Những điều không nên làm khi tìm loài ong dú để nuôi
Không chặt cây rừng lấy tổ. Lấy một đàn mà phá một cây cổ thụ là cái giá quá đắt cho rừng. Đàn hoang nên để yên ở chỗ của nó.
Không mua đàn vì tên nghe hiếm. Loài hiếm thường là loài ít ai biết cách nuôi, đàn dễ chết khi vào thùng.
Không trộn hai đàn khác loài. Ong không ngòi khác loài sẽ đánh nhau. Mỗi thùng một đàn, đừng ghép.
Không tin quảng cáo mật loài này chữa bệnh. Mật ong dú là thực phẩm. Hương vị có khác giữa các đàn, nhưng chuyện sức khỏe thì hỏi bác sĩ.
Không vội nhân đàn từ một đàn duy nhất. Có vài đàn từ các nguồn khác nhau giúp trại đỡ phụ thuộc vào một dòng.
Không bỏ qua kiểm đàn khi nhận. Đàn mới nhận phải có ong ra vào đều, có bình mật, bình phấn, có ổ ấp. Thiếu một trong ba là đàn yếu.
Không thả đàn lạ gần đàn đang có. Đàn mới đặt sát đàn cũ dễ bị cướp mật. Để cách ra vài mét, cửa quay hướng khác nhau.
Không lấy ong từ vùng có dịch bệnh lạ. Ong không ngòi ít bệnh nhưng vẫn có thể mang theo kẻ hại như ruồi hại tổ. Hỏi rõ nguồn.
Không đặt cược vào một mùa. Đàn mới vào vùng cao cần ít nhất một năm qua đủ mùa khô, mùa mưa, mùa lạnh mới biết có hợp không.
Không giấu người mua sau này. Nếu sau này mình bán lại đàn, nói thật nguồn gốc. Người nuôi vùng cao cần biết đàn đã quen lạnh chưa.
Không quên rằng nuôi để giữ. Mục tiêu là đàn sống lâu, khỏe, cho mật đều, không phải gom đủ loài để khoe.
Câu hỏi thường gặp
Ong dú và ong vú có phải một loài không?
Đó là hai cách gọi theo vùng cho cùng nhóm ong nhỏ không ngòi. Bên trong nhóm đó có nhiều giống, nhiều loài, nên hai đàn cùng được gọi là ong dú chưa chắc cùng loài.
Loài ong dú nào cho nhiều mật nhất?
Chưa có so sánh nào đủ tin cậy cho điều kiện vùng cao Việt Nam. Lượng mật phụ thuộc vào sức đàn, nguồn hoa và cách chăm nhiều hơn là tên loài, nên đàn khỏe ở vườn nhiều hoa vẫn là lựa chọn chắc nhất.
Có thể tự giám định loài ong dú bằng ảnh điện thoại không?
Ảnh rõ có thể giúp đoán giống, nhưng để chốt loài thường cần xem mẫu dưới kính hiển vi. Nên coi ảnh là bước đầu để hỏi người có chuyên môn.
Ong dú Lâm Đồng có khác ong dú miền Tây không?
Có thể cùng giống, thậm chí cùng loài, nhưng đàn ở vùng cao đã quen lạnh và mùa mưa dài. Đem đàn miền Tây lên nuôi cần thời gian thích nghi, đặc biệt qua mùa lạnh đầu tiên.
Thấy ong rất nhỏ hay đậu vào mắt có phải ong dú để nuôi không?
Đó thường là các loài ong không ngòi rất nhỏ thuộc giống khác, có tập tính hút nước mắt, mồ hôi. Chúng hiền nhưng không phải loài người nuôi hay giữ để lấy mật.
Có nên bắt đàn ong dú hoang trong rừng về nuôi không?
Không nên tự ý, nhất là khi phải đục phá cây rừng. Mua đàn đã được nhân trong thùng từ người nuôi gần vùng là cách vừa giữ rừng vừa có đàn quen khí hậu.